Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

[5.24] Thông tin phía Mỹ ghi nhận về Trung đoàn 29- Quân khu 4 năm 1967

2015061535034
Rongxanh có nhận được 1 comment về Liệt sỹ hy sinh 24/5/1967 thuộc Trung đoàn 29 quân khu 4.

http://kyvatkhangchien.vnweblogs.com/post/36742/464355#2141948
Viết bởi trương thanh huynh,quảng sơn,quảng bình TÌM MỘ LIỆT SỶ [ Trả lời ]
TÌM MỘ LIỆT SỶ.Trương quang giỏng
quê quán.thọ hạ,quảng sơn,quảng trạch ,quảng bình
sinh.7/1942
nhập ngủ.4/1963
hy sinh.8h ngày 24/5/1967,tại mặt trận phía nam
Đơn vị.trung đoàn 29,khu 4,giấy báo tử do ông Thân hoạt ký ngày 31/8/1967,ai biết phần mộ nằm ở đâu xin báo.trương thanh huỹnh.đt,01257558559


Qua tìm hiểu, phía Mỹ có ghi nhận về Trung đoàn 29 mang mật danh là Kien Giang (Kiên Giang hoặc Kiến Giang), thuộc Sư đoàn 325C. Trên thực tế, đây là Trung đoàn 18C thuộc Sư đoàn 325C, thời điểm đầu tháng 5/1967 được phía Mỹ ghi nhận hoạt động ở huyện Gio Linh - tỉnh Quảng Trị (phía Tây Cồn Tiên).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

[2.20] Vài nét tóm tắt về lịch sử Trung đoàn 320

20150614 - Vài nét tóm tắt về lịch sử Trung đoàn 320

- Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh 320. Trung đoàn trưởng đầu tiên là thiếu tá Đồng Sĩ Phiên, nguyên là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36 – Sư đoàn 308. Chính ủy là Trung tá Bùi Dư, quê Quảng Ngãi. Bộ Tổng tham mưu giao cho các Sư đoàn 308, 304, Lữ đoàn 350, mỗi đơn vị chọn lựa cán bộ và chiến sỹ trong sư đoàn, lữ đoàn tổ chức thành 1 tiểu đoàn bộ binh chuyển giao cho Trung đoàn 320.
   + Tiểu đoàn 334, do Sư đoàn 308 thành lập. Tiểu đoàn được mang truyền thống Đại đoàn Quân tiên phong 308.
   + Tiểu đoàn 966, do Sư đoàn 304 thành lập. Tiểu đoàn được lựa chọn cán bộ và chiến sỹ từ Trung đoàn 9 Quang Trung, và Trung đoàn 66, nên tên của Tiểu đoàn này được ghép từ 2 trung đoàn này, gọi là tiểu đoàn 966. Tiểu đoàn 966 được mang truyền thống của Đại đoàn 304 anh hùng. Sau này khi Trung đoàn 320 hành quân vào Nam bộ chiến đấu, thì tiểu đoàn 966 ở lại Tây Nguyên, tiếp tục chiến đấu ở vùng Pleiku. Sau này tiểu đoàn sát nhập với Tiểu đoàn 31 và lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 631.
      + Tiểu đoàn 635 do Lữ đoàn 350 thành lập, lấy tiểu đoàn 4 của Lữ đoàn làm nòng cốt. Tiểu đoàn 635 được mang truyền thống vinh quang của Đại đoàn 350.
     + Các đơn vị trực thuộc của Trung đoàn 320 gồm các đại đội: Trinh sát, công binh, thông tin, súng cối, DKZ được điều động từ các đơn vị của Bộ quốc phòng. Khi trung đoàn vào đến Tây Nguyên thì được bổ sung thêm 1 đại đội súng máy cao xạ 12.7mm từ Tiểu đoàn 33 súng máy cao xạ.

- Sau 4 tháng học tập và rèn luyện ở khu vực doanh trại của Lữ đoàn 338 ở Xuân Mai, Trung đoàn được chia thành 3 khối hành quân vào Tây Nguyên. Khối thứ nhất gồm có các cơ quan Trung đoàn, các đại đội trực thuộc và Tiểu đoàn 334. Khối thứ 2 là Tiểu đoàn 635, khối thứ 3 là Tiểu đoàn 966. Mỗi khối hành quân cách nhau 3 ngày. Khối thứ nhất rời Xuân Mai vào ngày 16/8/1964.

- Sau gần 3 tháng hành quân, đến tháng 11/1964 toàn Trung đoàn đã đến huyện 40 Daklây tỉnh Kontum. Khi thành lập Sư đoàn 1, thì Trung đoàn 320 được đứng chân trong đội hình Sư đoàn 1 – Mặt trận B3 Tây Nguyên.

- Sau một thời gian hoạt động ở khu vực bắc Tây Nguyên, tiếp tục cho đợt 2 tổng công kích và tổng khởi nghĩa, trong đợt 2 Sư đoàn 1 hành quân vào Đắc Lắc. Trung đoàn 320 vào triển khai chuẩn bị cho vận động tiến công ở khu vực Đức Lập. Lúc này Tiểu đoàn 6 (Tiểu đoàn 966) đã tách ra khỏi đội hình Trung đoàn và về hoạt động ở vùng Tây Gia Lai. Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 33 về Trung đoàn 320 thay cho tiểu đoàn 6. Trong khi Trung đoàn 320 đang triển khai trận địa phục kích ở Đức Lập, thì tháng 5/1968, Sư đoàn 1 nhận được mệnh lệnh điều động Trung đoàn vào chiến trường miền Đông Nam bộ.

- Sau một thời gian hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam bộ, đầu năm 1969, do tình hình khó khăn của các đơn vị trên địa bàn tỉnh Long An, Bộ tư lệnh miền đã quyết định điều Trung đoàn 320 về hoạt động tại địa bàn tỉnh Long An. Từ khu vực Katum (Tây Ninh), Trung đoàn hành quân đến căn cứ Ba Thu của Phân khu 2 vào dịp tết nguyên đán, sau đó hành quân tiếp về Long An.

- Theo kế hoạch, Trung đoàn bộ, các đại đội trực thuộc (đặc công, trinh sát, quân y, thông tin, vận tải...) và tiểu đoàn 6 (Tiểu đoàn 966) đứng chân và hoạt động ở huyện Châu Thành. Tiểu đoàn 5 (tiểu đoàn 635) đứng chân và hoạt động ở huyện Tân Trụ. Tiểu đoàn 4 (Tiểu đoàn 334) đứng chân và hoạt động ở khu vực huyện Cần Đước. Sau hơn 1 năm hoạt động ở địa bàn tỉnh Long An, toàn Trung đoàn có 1027 người hy sinh, trong đó có 5 cán bộ Trung đoàn, 593 người bị thương (Sau này tìm sơ bộ thì số cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 320 hy sinh trên địa bàn tỉnh Long An là khoảng 1700 người).

- Đầu năm 1970, Trung đoàn 320 nhận được lệnh để lại các Tiểu đoàn 4 ở Cần Đước, tiểu đoàn 5 ở lại Tân TRụ, tiểu đoàn 6 ở lại Châu Thành tiếp tục hoạt động. Các lực lượng khác của Trung đoàn rút về Ba thu. Các tiểu đoàn 4-5-6 ở lại hoạt động trong hoàn cảnh điều kiện cực kỳ khó khăn, có những lúc các tiểu đoàn mất liên lạc với ban chỉ huy Trung đoàn và Bộ tư lệnh Phân khu 3 nên không còn nguồn cungc cấp hậu cần. Đến cuối năm 1970, Trung đoàn bàn giao tiểu đoàn 4 – 5 – 6 cho tỉnh Long An (Mỗi tiểu đoàn thực tế quân số chỉ còn hơn 90 người).

- Ngày 4/5/1970 lực lượng Mỹ và VNCH tổ chức trận càn đánh trúng vào khu vực Trung đoàn 320 vừa tạm dừng chân, đã làm Trung đoàn bị thiệt hại nặng, trong đó có cả Ban chỉ huy Trung đoàn.

- Sau khi bàn giao tiểu đoàn 4 – 5 – 6 cho tỉnh Long An, khi về căn cứ, Trung đoàn 320 được Bộ Tư lệnh Miền bổ sung cho 2 tiểu đoàn của C30 , đại đội huấn luyện và số cán bộ chiến sỹ khác dồn lại tổ chức thành 1 tiểu đoàn. Từ tháng 9/1971 đến tháng 12/1971, Trung đoàn tập trung củng cố về tổ chức, huấn luyện quân sự và học tập chính trị. Trung đoàn đã được biên chế đủ 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trực thuộc.

- Tháng 2/1972, Trung đoàn 320 chính thức nhận nhiệm vụ về Quân khu 8 chuẩn bị bước vào hoạt động chiến dịch trên chiến trường Đồng Tháp Mười. Trung đoàn có tham gia vào các đợt hoạt động của Quân khu và tham gia vào chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

- Tháng 7/1977, theo mệnh lệnh của Quân khu, Trung đoàn chia làm 2, một nửa ở lại Sư đoàn 8 làm nòng cốt xây dựng Trung đoàn 2, Sư đoàn 8. Một nửa chuyển về tỉnh Đồng Tháp xây dựng Trung đoàn 320 làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới (gồm các Tiểu đoàn 1, 2, 3, tổng quân số khoảng 600 người).

- Sau một thời gian hoạt động chiến đấu bảo vệ biên giới, ngày 6/1979, Trung đoàn 320 được giao nhiệm vụ phối hợp với cánh trái Sư đoàn 9 Quân đoàn 4 đánh chiếm huyện lỵ Piemcho, sau đó phát triển về bến phà Niek Lương, hội quân với Sư đoàn 9 và chốt giữ bến phà để Sư đoàn 9 tiến về thủ đô Phnompenh.

- Tại Campuchia, Trung đoàn đã đứng chân hoạt động chính trên địa bàn tỉnh Preyveng. Năm 1982, Quân khu 7 quyết định giải thể Trung đoàn 320, chia các cán bộ Tiểu đoàn về địa bàn huyện – xã hoạt động. Quân khu thành lập Tiểu đoàn 320, và đưa đi hoạt động ở tỉnh Cong pong Chàm.

- Tháng 6/1984, Quân khu 7 quyết định thành lập lại Trung đoàn 320, gồm các tiểu đoàn 502 – 504 – 506 (Tiểu đoàn 320 đổi tên thành tiểu đoàn 504), địa bàn hoạt động ở tỉnh Cong Pong Thom.

- Những năm tiếp sau, Trung đoàn thay Trung đoàn Gia Định hoạt động ở khu vực từ Bắc tỉnh Cong pong Chàm kéo dài đến sát Siem Riệp và Preah Vihia.
- Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, về nước, Trung đoàn nhận mệnh lệnh giải thể. Dù Trung đoàn 320 không còn, nhưng tỉnh Đồng Tháp vẫn khôi phục lại tên Trung đoàn 320, các tên song trùng của Trung đoàn 891 quân dự bị.

[2.19] Diễn biến về cơ cấu tổ chức một số đơn vị thuộc Mặt trận Tây Nguyên B3 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

20150607


1.            Tháng 11/1964, thành lập Viện quân y 1 trên cơ sở khung tiểu đoàn quân y của Sư đoàn bộ binh 325 mới vào chiến trường Tây Nguyên.

2.            Ngày 20/12/1965, thành lập Sư đoàn bộ binh 1 chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên B3. Trong biên chế Sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh là trung đoàn 320, trung đoàn 33 [Là trung đoàn 101B của Sư đoàn 325B], trung đoàn 66 và một số phân đội hỏa lực, bảo đảm. Sư đoàn trưởng: Đồng chí Nguyễn Hữu An, Chính ủy: Đồng chí Hoàng Thế Thiện.

3.            Ngày 20/12/1965, thành lập Sư đoàn bộ binh 6 chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên. Biên chế có 2 Trung đoàn là Trung đoàn 24A và Trung đoàn 88, tiểu đoàn pháo binh 200, 1 tiểu đoàn súng máy cao xạ, 1 tiểu đoàn trinh sát, 1 đại đội công binh. Do các Trung đoàn 24 và 88 đang trên đường hành quân vào chiến trường nên Sư đoàn 6 mới hình thành bộ tư lệnh, cơ quan sư đoàn và 1 số đơn vị trực thuộc.

4.            Tổng Cục Hậu cần quyết định thành lập Bệnh viện [Quân y viện] 211 có từ 400 đến 500 giường bệnh, tăng cường cho chiến trường Tây Nguyên. Đây là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối để thu nhận thương bệnh binh ở Tây Nguyên, Hạ Lào và bộ phận phía Nam của Đoàn 559 Trường Sơn. Chỉ huy bệnh viện có bác sỹ Võ Văn Vinh – Cục phó Cục Quân y làm viện trưởng. Đội ngũ cán bộ của bệnh viện được chọn trong các chuyên viên của 2 bệnh viện tuyến cuối của quân đội là Viện quân y 108 và Viện quân y 103. [Số 211 trong tên bệnh viện là phép cộng của 108 và 103, là số hiệu 2 bệnh viện lớn của Quân đội, có ý nghĩa là Viện 211 từ 2 bộ phận của 2 quân y viện lớn của quân đội lập nên – Rx chú thích thêm]
5.            Đầu tháng 4/1966, Sư đoàn bộ binh 325B được tăng cường vào đến chiến trường Tây Nguyên. Đến Tây Nguyên, Sư đoàn được mang phiên hiệu Nông trường 10 –NT10 tức Sư đoàn 10.

6.            Tháng 9/1966, Bộ Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên B3 quyết định giải thể Sư đoàn bộ binh 6 và Sư đoàn bộ binh 10. Cán bộ 2 Sư đoàn này tăng cường cho cơ quan Mặt trận. Nguyên nhân giải thể là do việc đảm bảo hậu cần cho các đơn vị chủ lực lớn có nhiều khó khăn, điều kiện tập trung đánh lớn và thiết bị chiến trường còn nhiều hạn chế.

7.            Tháng 9/1966, thành lập Tiểu đoàn 101 độc lập của Mặt trận trên cơ sở chọn những đồng chí quê ở Việt Bắc, Tây Bắc trong Trung đoàn 101B.

8.            Giữa tháng 4/1968, Sư đoàn 325C vào đến chiến trường Tây Nguyên. Vào đến nơi Sư đoàn được gọi là Sư đoàn 6, gồm các trung đoàn bộ binh 95C và 101D.

9.            Tháng 5/1968, các Trung đoàn bộ binh 320, 33 và 174 lần lượt rời Tây Nguyên vào miền Đông Nam Bộ theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh.

10.         Tháng 10/1968, Sư đoàn bộ binh 6 (Sư đoàn 325C) gồm các trung đoàn bộ binh 95C và 101D và các phân đội hỏa lực đảm bảo được Bộ Tổng tư lệnh điều vào miền Đông Nam bộ.

11.         Cuối năm 1968, Bộ Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên tổ chức Lữ đoàn 66 gồm Trung đoàn bộ binh 66, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cối. Nhưng sau một thời gian ngắn lại giải thể.

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

[3.31.9] Thư của bác Nguyễn Văn Đương, đơn vị không xác định thuộc Mặt trận B3 Tây Nguyên, gửi về cho bác Nguyễn Văn Nhuận hoặc bà Dần, thôn Phú Đa - xã Đức Thượng - huyện Hoài Đức - Hà Tây, năm 1966 (tiếp...)

2015012829049.37 - Những bức thư thời chiến

Các bức thư đề ngày 4/12/1966, bị lính Mỹ thu tháng 12/1966. Bác Duơng cùng đơn vị với bác Thỏa và bác Quang Phúc [Rx đã đưa lên ở các post trước].

Ảnh chụp các bức thư gửi về cho mẹ:
alt

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015

[7.7] Trận tấn công quân Úc tại căn cứ (FSB) Balmoral của tiểu đoàn 2 và 3 - Trung đoàn 165 - Sư đoàn 7 Quân giải phóng miền Nam, rạng sáng ngày 28/5/1968

2015051753025

Dưới đây là tóm tắt diễn biến trận tấn công quân Úc tại căn cứ (FSB) Balmoral của tiểu đoàn 2 và 3 - Trung đoàn 165 - Sư đoàn 7 Quân giải phóng miền Nam, rạng sáng ngày 28/5/1968.

Căn cứ Balmoral hiện nay nằm tại xã Bình Mỹ - huyện Tân Uyên - tỉnh Bình Dương.

------
Lúc 2 giờ 30 ngày 28/5/1968, căn cứ Balmoral [Phía Nam bàu Hàm/Hàng – Rx chú thích] bị phía Bắc Việt tấn công bằng súng cối và súng phóng lựu, theo sau là đợt tấn bằng bộ binh vào căn cứ từ phía Nam. Cuộc tấn công này ngừng lại lúc 3 giờ 10, sau đó đó chuyển hướng và lực lượng phía Bắc Việt cố gắng cắt hàng rào căn cứ phía Đông Bắc. Lúc 3 giờ 40, có một lực lượng nhỏ ở hướng Đông căn cứ. Tất cả các hoạt động [của phía Bắc Việt] ngừng lại vào lúc 5giờ.
Máy bay, pháo binh tấn công bắn phá phía Bắc Việt liên tục. Pháo sáng liên tục được bắn lên bởi pháo binh Mỹ cho đến 5 giờ, khi ánh sáng mặt trời bắt đầu gây khó cho phía Bắc Viêt di chuyển và thu thập thương binh - tử sỹ.
Lúc 10 giờ 20, toán tuần tra đi về phía Đông Bắc phát hiện hàng loạt vệt máu.
Kết quả trận chiến: Có 42 lính Bắc Việt hy sinh.
Phía Úc xác định tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 165 – Sư đoàn 7 tham gia tấn công.

Bản đồ khu vực:

alt

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

[3.31.8] Thư của bác Nguyễn Văn Đương, đơn vị không xác định thuộc Mặt trận B3 Tây Nguyên, gửi về cho bác Nguyễn Văn Đoàn, thôn Phú Đa - xã Đức Thượng - huyện Hoài Đức - Hà Tây, năm 1966

2015012829049.32 - Những bức thư thời chiến

Các bức thư đề ngày 4/12/1966, bị lính Mỹ thu tháng 12/1966. Bác Duơng cùng đơn vị với bác Thỏa và bác Quang Phúc [Rx đã đưa lên ở các post trước].

Ảnh chụp các bức thư:

alt

alt

alt


alt

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

[7.6.2] Đường Trường Sơn/ đường 559/đường Hồ Chí Minh - Đợt đánh phá trọng điểm bản Bạc cuối tháng 12/1970 - tiếp [Phần 3]

Link phần trước:[7.6.1] Đường Trường Sơn/ đường 559/đường Hồ Chí Minh - Đợt đánh phá trọng điểm bản Bạc cuối tháng 12/1970 - tiếp


4. Ban ngày, ngày 19/12/1970

Một máy bay trinh sát OV10 được phái đến khu vực, phi công chỉ sử dụng ống nhòm thay cho thiết bị quan sát. Nhiệm vụ đầu tiên của phi công là kiểm chứng khu vực đỗ xe tải đã phát hiện buổi đêm (sáng sớm 19/12 – RX chú thích), đoạn kéo dài của con đường cụt, và đánh giá thiệt hại do ném bom.

Phi công xác nhận 2 xe tải bị phá hủy và các dấu hiệu cho thấy khu đỗ xe tải, kho nhiên liệu và vũ khí. Ngoài ra phi công còn thấy dấu hiệu của con đường kín. Những chỗ rừng cây bị bom oanh tạc buổi đêm nên phi công có thể nhìn thấy các phi xăng dầu và dấu vết xe tải. Phi công còn phát hiện thấy suối cạn chạy ra từ khu kho/ đỗ xe và nhìn thấy các dấu hiệu được che phủ bởi tán cây tre, thêm vào với tán lá rừng, cho phép xe tải chạy kín đáo và không thể phát hiện bởi máy bay trinh sát.

Các dấu hiệu khác khẳng định tầm quan trọng của trọng điểm này đối với quân đội bắc Việt, là mật độ pháo phòng không bắn lên. Kể từ lúc pháo phòng không bắn vào phi đội F4 rạng sáng 19/12 cho đến khi nó ngừng bắn vào 36 giờ sau, hệ thống phòng không này bắn vào bất cứ mục tiêu trên không nào.

Phi công có thể thấy các xe tải di chuyển và các hoạt động duới mặt đất, dấu hiệu của quân đội Bắc Việt đang cố gắng di chuyển hàng hóa hậu cần ra khỏi khu vực. Lập tức, phi công báo về Sở chỉ huy và yêu cầu oanh tạc thêm.

Hai máy bay F4 đến, và oanh tạc vào khu vực được phi công máy bay OV10 chỉ điểm bằng đạn khói Phốt pho trắng. Các máy bay F4 mang theo bom Mark 82 và CBU 24. Khu vực ném bom được mở rộng liên tục theo phương pháp “thử dần” cho đến khi phạm vi ném bom vượt quá 1000m chiều rộng và 1500 m chiều dài. Máy bay xuất phát từ sân bay Ubon (Thái Lan), Đà nẵng, Phan Rang, Kò rạt (Thái Lan), và tàu sân bay của hạm đội 7.

Sau khi oanh tạc các mục tiêu khác, máy bay quay lại khu vực ném bom và bắn phá hàng hóa quân sự bằng súng 20mm. Sau đó bay vòng trên khu vực để quan sát các vụ nổ/ cháy phát sinh. Cả khu vực chìm trong các đám cháy và nổ. Phi công báo cáo, có thể thấy các quả cầu lửa cao đến hàng trăm mét trên trời.

Sau 36 giờ, hệ thống phòng không bắt đầu giảm bắn và sau đó ngừng hẳn. Các cuộc oanh tạc tiếp diễn trong các ngày sau. Khi 1 máy bay hoàn thành các đợt oanh tạc và “làm sạch” khu vực, thì các máy bay khác đến và chuẩn bị oanh tạc tiếp tục. Lửa và khói có thể nhìn thấy ở khoảng cách 20 dặm (khoảng 36km). Xuất hiện hàng loạt các quả cầu lửa do nổ các phi xăng/ dầu loại 200 lít ở độ cao 100 – 150m, do các vụ nổ dưới đất bắn tung các phi xăng/ dầu này lên không trung.

Dưới mặt đất các xe vận tải cố gắng chạy thoát khỏi khu vực. Máy bay trinh sát bắn pháo khói vào các xe tải, chỉ thị mục tiêu cho máy bay ném bom oanh tạc.

Không ảnh ngày 19/12 cho thấy có 14 xe vận tải bị phá hủy. Có 1227 vụ nổ phát sinh và 64 vụ cháy phát sinh. Tổng cộng có 41 phi vụ oanh tạc, gồm 19 F4 – 18 F100 – 2 A7 – 2 B57 thực hiện.